3 thg 11, 2012

Tại sao "sếp" ôm việc ...


Để tìm hiểu nguyên nhân tại sao "Sếp Việt thích ôm đồm công việc của nhân viên",cần phải đánh giá khi đứng trên vị trí của cả nhân viên và của sếp.

Xét về việc sếp ôm đồm công việc, có những lý do sau:

1. Công ty nhỏ hoặc mới thành lập chưa đủ nhân lực, nên buộc sếp phải cùng tham gia với nhân viên. Hoặc trong quá trình kèm cặp hướng dẫn nhân viên từ vị trí cũ sang vị trí mới.

2. Những dự án lớn vượt năng lực vốn có của công ty, buộc sếp phải sát sao chỉ đạo.

3. Công việc, ví dụ cần 5 người hoàn thành trong 7 ngày như đã hợp đồng với đối tác, nhưng có 2 người nghỉ phép hoặc nghỉ đột xuất thì sếp cũng phải xắn tay vào mà làm.

4. Sếp không tin tưởng vào nhân viên lắm vì trước đó nhân viên chưa hoàn thành chỉ tiêu hoặc hiệu quả chưa cao. Có những quan hệ nhạy cảm, sếp không yên tâm vì nhân viên đạo đức kém có thể "ăn cắp" quan hệ.

5. Sếp muốn cùng làm với nhân viên để kiểm tra tiến độ và áp lực công việc, làm định mức cho các công việc tương tự. Nhân viên muốn tiến độ an toàn còn sếp muốn có áp lực để đánh giá động lực của nhân viên.

6. Đúng là sếp không tin nhân viên và nhân viên muốn "cho xong việc" với sếp. Nếu rơi vào trường hợp này thì công ty đang có vấn đề về quản trị.

7. Trong thực tế, có sếp giỏi về quản lý, có sếp giỏi về chuyên môn... Những sếp giỏi về chuyên môn, từ chuyên môn đi lên thường gắn nghiệp vụ trong đầu, thường có thói quen đi sát vào những công việc của bộ phận chuyên môn.

8. Những sếp giỏi về quản lý lại có thiên hướng giao việc, giám sát, đánh giá theo quy trình... nhưng nếu không sát thực tế, chỉ ngồi nghe báo cáo rất dễ rơi vào tình trạng con dao hai lưỡi và dễ bị nhân viên qua mặt.

Do vậy công việc quản lý của sếp phải hài hoà vừa quản lý theo quy trình, vừa dành thời gian bám sát công việc của nhân viên để kịp thời điều chỉnh.

Với công ty chuyên nghiệp thì phải đảm bảo đủ nhân lực, việc nào ra việc đấy rạch ròi. Có cơ chế giao việc, giám sát, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật theo quy trình, quy chuẩn bài bản.



LÊ VĂN CƯỜNG - VnExpress 

9 thg 10, 2012

Đề cương trình bày ở ĐHNN, ĐHQGHN về lập thời khóa biểu và đăng ký môn học (28/09/2012)


1. Quan điểm
            - Tiến trình bình thường
            - Tiến trình khác
            - PĐT điều phối, các khoa phối hợp
2. Mục tiêu
            - SV đăng ký được theo tiến trình bình thường
            - Bao quát được các kết quả đăng ký
3. Nguồn lực  
            - Các ứng dụng tin học văn phòng hữu hiệu 
            - Email, website
            - Phần mềm
            - Dữ liệu trong phần mềm
            - Các khoa (chú ý chất lượng CVHT)
            - Đơn vị bạn
            - CAIT
            - Tình nguyện viên
            - Phối hợp nội bộ
4. Cách làm
            - Lập lộ trình
            - Khoa dự kiến, PĐT rà soát
- PĐT lập TKB
- Các khoa phản biện TKB
- PĐT tinh chỉnh TKB
- Đăng ký học
- Chốt TKB
- Duyệt kết quả đăng ký học
5. Truyền thông
            - Nội bộ các cán bộ quản lý và phục vụ đào tạo
            - Giảng viên
            - Sinh viên
6. Xử lý sự cố
            - Tắc/nghẽn đường truyền
            - "Loạn" tiến trình hay "khóa sau đè khóa trước"
            - Thêm/Bớt/Sửa/Xóa
            - Hạ hỏa "bất bình" bằng thông tin
7. Đánh giá chất lượng và hiệu quả
            - Theo mục tiêu
            - Khi duyệt thời khóa biểu của sinh viên
            - Khi làm lịch thi
           


27 thg 9, 2012

Trích thư gửi đồng nghiệp về hướng dẫn thực hiện CTĐT


Tháng 04/2012.....


2. Về hướng dẫn thực hiện CTĐT

Lần giờ lịch sử văn bản của ĐHQGHN từ 2006 về xây dựng, điều chỉnh CTĐT thì món này luôn được ... bỏ trống, chỉ có mỗi đề mục thôi. Chắc vì các bác ấy không tổ chức đào tạo bao giờ nên mới bỏ vậy (đùa đấy!!!). Cái này, TRƯỜNG ta cần hướng dẫn thì sát thực tế hơn nhưng đúng là đợt này cũng chưa thấy có nên mình nêu để Giang tham khảo.

2.1 Kế thừa: Năm 2007, mình phải làm việc với từng khoa về hướng dẫn thực hiện CTĐT. Các CTĐT ngày đó để nghiệm thu đều có món này cả. Như trên, hãy tìm ở khoa rồi .... để kế thừa.

2.2 Nhận thức về Hướng dẫn thực hiện CTĐT
a) Ai là người hướng dẫn
Người biên soạn CTĐT là người phải xây dựng hướng dẫn.  
b) Hướng dẫn cho ai
Cho các bên liên quan đến CTĐT, bao gồm: Quản lý đào tạo (từ cấp PĐT đến TLĐT), giảng viên, cố vấn học tập, sinh viên. Nếu làm đầy đủ thì phải như vậy. Nhưng thực tế, năm 2007 thì chỉ mới làm cho quản lý đào tạo thôi. 
c) Hướng dẫn để làm gì
- Làm rõ cách thức tổ chức đào tạo. 
Ví dụ: "Sau học kỳ đầu tiên của khóa học, căn cứ kết quả học tập và nguyện vọng của sinh viên, trên cơ sở chỉ tiêu của mỗi chuyên ngành được Hiệu trưởng phê duyệt, Chủ nhiệm Khoa Đông phương học đề xuất việc xét sinh viên theo học từng chuyên ngành và báo cáo Nhà trường (qua phòng Đào tạo) quyết định. Việc này cần hoàn thành trước khi học kỳ thứ 2 của khóa học bắt đầu".
Ví dụ: "Tiến trình đào tạo dưới đây được thiết kế để một sinh viên tích lũy với khối lượng 17 - 18 tín chỉ/học kỳ (không bao gồm các môn GDTC, GDQP, kỹ năng mềm) sẽ hoàn thành khóa học sau 8 học kỳ. Đó là tiến trình bình thường của khóa học đối với mọi sinh viên. Khi sinh viên muốn tốt nghiệp sớm thì việc học vượt chỉ có thể bắt đầu từ học kỳ thứ 3 và hãy lưu ý là các môn A, B, C của học kỳ 4 trong tiến trình bình thường là phù hợp cho sinh viên đăng ký học ở học kỳ thứ 3. Tương tự như vậy, các môn cùng có ký hiệu (V) ở các kỳ kế tiếp là gợi ý cho tiến trình sớm của sinh viên:
- Làm rõ các lưu ý với mỗi bên liên quan.
Ví dụ: "Chuyên ngành Đông Nam Á và Úc học dạy ngoại ngữ chuyên ngành là tiếng Anh và tiếng Thái Lan. Khi điều kiện cho phép, các ngôn ngữ khác của khu vực được giảng dạy sẽ là tiếng Malayu, tiếng In donesia"
Ví dụ: "Ngoài việc phải thực hiện đúng tiến trình đào tạo theo trình tự quan hệ tiên quyết - kế tiếp được xác định trong CTĐT cho mỗi môn học, cán bộ quản lý đào tạo cần chú ý khi lập tiến trình đào tạo toàn khóa hay lập thời khóa biểu cho mỗi học kỳ đến trình tự mở lớp của các môn học dù không có quan hệ tiên quyết - kế tiếp nhưng sinh viên cần học môn A rồi mới đến học môn B thì mới đảm bảo được yêu cầu chuyên môn... Lưu ý trên cũng cần được cố vấn học tập chú ý để khi tư vấn cho sinh viên, giúp các em tránh tình trạng đăng ký môn học không phù hợp với tiến trình nhận thức"
- Làm rõ các vấn đề cần chú ý với những nhóm môn học đặc thù
Ví dụ: "Môn học Tiếng Việt và các ngôn ngữ  phương Đông - ORS2006 có 10 giờ học cần sử dụng thiết bị nghe - nhìn. 10 giờ học này được bố trí ở 10 tuần học khác nhau. Vì thế, giảng đường của lớp môn học này cần có sẵn thiết bị đó hoặc được cung cấp khi cần"
Ví dụ: "Ngoại ngữ chung sinh viên chỉ học tiếng Anh. Quy định này xuất phát từ việc 2/5 chuyên ngành là Ấn Độ học và Đông Nam Á học có giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành là tiếng Anh nên phần ngoại ngữ chung trước đó không học được các thứ tiếng khác"

2.3 Mối quan hệ giữa tiến trình đào tạo và Hướng dẫn thực hiện CTĐT
- TTĐT là một nội dung quan trọng của CTĐT. Tuy nhiên, TTĐT chỉ nhằm trả lời được câu hỏi: Môn nào mở/học trước và môn nào thì sau? HDTHCTĐT thì trả lời nhiều loại và nhiều lượng câu hỏi hơn rất nhiều (như ví dụ ở 2.2).
- Tuy vậy, khi xây dựng HDTHCTĐT thì cần phải thiết kế TTĐT trước đã. Tuy nhiên, khi xây dựng HDTHCTĐT thì lại phải luôn xem lại liệu TTĐT đã thiết kế có thực sự hợp lý hay không? Nó hoàn toàn có thể sửa lại bởi vì trong HDTHCTĐT mới có CON NGƯỜI (triết lý chưa, khà khà!!!) còn TTĐT thì ... không.

2.4 Gợi ý thiết kế TTĐT
Hãy hình dung, khi SV cầm TTĐT trên tay họ trả lời được các câu hỏi dưới đây là TTĐT đạt yêu cầu
- Mỗi học kỳ trong khóa học, mình sẽ học môn gì. Với các môn tự chọn, họ có thể nhìn thấy tất cả các môn CTĐT có mà không phải lục tìm văn bản khác.
- Học kỳ này có môn học nào là quan trọng đối với các học kỳ sau (kế tiếp, sau kế tiếp). Điều này giúp SV có định hướng mục tiêu tốt để xây dựng chiến lược học tập.
- Học kỳ này mình muốn học vượt / học chậm, mình nên học thêm / bớt học môn nào.

2.5 Tiêu chí đánh giá hướng dẫn đạt yêu cầu
- Các quy chuẩn về tổ chức đào tạo được đáp ứng. Chú ý là việc hướng dẫn về các môn tự chọn rất quan trọng đối với sinh viên và quản lý đào tạo.
- Các giai đoạn của cả khóa học đều được thể hiện trong hướng dẫn. Ngay cả khi ở một học kỳ nào đó không có gì đáng phải chỉ dẫn thì thông tin "học kỳ này thực hiện bình thường theo quy chế" sẽ giúp cho bản hướng dẫn được trở nên tường minh và có hiệu quả sử dụng tốt.
- Các cơ hội học tập của sinh viên được chỉ dẫn
- Các bên liên quan hiểu được và thực hành được
- Các chỉ dẫn để các bên liên quan có thể tiếp tục trao đổi nhằm hoàn thiện hướng dẫn hoặc sử dụng hướng dẫn được hiệu quả.

22 thg 9, 2012

"Bình loạn" về làm phần mềm


Nửa đêm tắt máy đi nằm
Thư thầy Dư gửi ... bàng hoàng lắm thay
Bây giờ mà nói chuyện quay
Dùng phiên bản 1 thì gay mất rồi

Chị Châu bức xúc quá trời
Thế nên mới nói là còn ... sáu mươi
Hay là anh Hải lạ đời
Dùng không có được mà cười lên sao?

Phần mềm nhiều lúc lao đao
Đến nay cũng vậy còn vào còn ra
Lắm khi cũng nổi can qua
Lắm khi cũng muốn thành ... ma ... cho rồi

Vậy sao có chuyện ngược, xuôi
Thưa rằng khổ nỗi một nồi mỗi vung
Anh dùng thời em cũng dùng
Nhưng không có chuyện đì đùng hỏi nhau

Bên nào cũng muốn sửa mau
Sao không tính chuyện cùng nhau ... chụm đầu  
Bàn cho thống nhất mau mau
Cho đành hết nhẽ của từng mo - dun

Tham gia mềm, cứng đã lâu
Nhưng mà vẫn thấy ong đầu lắm thay
Thầy Bình có thấy thật gay
Phải mau thay đổi cách làm Thầy ơi.

Dạo các trường cứ như .... chơi
Người thời nghe được, người thời ...không nghe
Quy trình năm mối bảy phe
Phần mềm chắc cũng hóa thành cứng thôi

Mau mau, đổi lại Thầy ơi! 

30 thg 6, 2012

Hệ CLC hay chương trình đào tạo CLC?


Có 1 chi tiết nhỏ về cách viết:

a) Chương trình đào tạo ngành Tâm lý học hệ CLC
b) Chương trình đào tạo CLC ngành Tâm lý học

Cách viết nào là đúng? Vì sao?

Cách viết thứ 2 là đúng bởi tính chất của CTĐT (chuẩn, CLC, đạt chuẩn quốc tế, bằng kép, văn bằng 2....) mới là cái chúng ta bàn đến. Bởi thế, ngành Tâm lý học chẳng hạn thì có 1 ngành nhưng CTĐT thì sắp có 2 CTĐT: Chuẩn và CLC.

Cái này ít người để ý tới các quy định trong quy chế đào tạo mà nói theo kiểu "thuận miệng" lâu ngày thành ra ... như đúng =)).

Nếu nói hệ CLC, hệ đạt chuẩn quốc tế, hệ chuẩn rồi lại nói hệ chính quy thì hóa ra tập mẹ và tập con là bằng nhau sao. Hoặc giả là chuẩn, CLC, đạt chuẩn quốc tế thì không phải là ... chính quy. 


Haizzzz, thư giãn tí vậy thôi!!!

13 thg 7, 2011

khoa học xã hội và nhân văn- từ thực tiễn xã hội đến giáo dục đại học


Sau khi con số thống kê từ đợt thu hồ sơ tuyển sinh vào các trường đại học cao đẳng trong cả nước được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, tháng 5 vừa qua, người ta bắt đầu chú ý và thảo luận nhiều về vấn đề suy giảm số lượng thí sinh thi vào các khối C và D nói riêng và thi vào khối ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung. Có những trường phổ thông ở Hà Nội, trong số trên 2000 hồ sơ đăng ký dự thi đại học chỉ có 02 hồ sơ thi khối C. Những con số này đã thực sự gây sốc cho dư luận.
Sự suy giảm này thực ra đã băt đầu từ nhiều năm nay. Trường hợp của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dẫu đứng trong số các trường khá dễ dàng trong tuyển sinh và điểm tuyển đầu vào thuộc loại nhóm cao, nhưng bình quân mỗi năm số thí sinh thi khối C cũng giảm khoảng 10%, tính trong vòng 5 năm trở lại đây. Sự sụt giảm này là có hệ thống, là một xu hướng trong thực tế chứ không phải hiện tượng bất thường, nhất thời. Theo tôi vấn đề này có tính tất yếu do rất nhiều nguyên nhân.
Như trên đã nói, việc học sinh phổ thông ít chọn thi khối C, D cũng có nghĩa là số người lựa chọn nghành nghề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội  nhân văn giảm. Người ta dễ nhìn nó là vấn đề de dọa nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực thuộc khối ngành nghề này. Đó là sự thực, nhưng vấn đề cần nhìn nhận  một cách sâu xa hơn và theo hướng đó chúng ta thấy vấn đề có phần nghiêm trọng hơn những gì mà người ta thảo luận sôi nổi trong mấy tuần nay.
Sau mấy chục năm đổi mới, sự triển khai chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường đã đạt được những thành tựu lớn, bộ mặt xã hội đã có rất nhiều sự thay đổi. Nhưng đồng thời một sự thay đổi sâu sắc hơn, to lớn hơn đối với con người và xã hội cũng đã diễn ra theo, đó là sự thay đổi hệ giá trị, các quan niệm giá trị với ý nghĩa là cái lõi của nền văn hóa. Giá trị tinh thần mà các lĩnh vực thẩm mỹ, nghệ thuật, văn chương, lịch sử, triết học mang tới cho con người, tạo ra sự thỏa mãn tinh thần  con người, gắn kết và điều hòa xã hội bị suy giảm. Tâm lý xã hội đề cao vấn đề lợi ích, sống thực tế, thiết thực thậm chí là thực dụng hơn.  Đây là kết quả tất yếu của chuyển đổi nền kinh tế, đổi mới, phát triển kinh tế, nhưng những vấn đề xã hội, vấn đề con người chưa được chú ý đúng mức. Chưa chú ý đứng mức thì chưa có chính sách phù hợp và những  giải pháp để điều chỉnh cho phù hợp.  Nó là một nguy cơ nhân văn, nguy cơ văn hóa nguy cơ đối với  con người và xã hội nói chung.
Học sinh ngày nay chú ý và theo đuổi các ngành như công nghệ, kỹ thuật,  kinh tế, tài chính, ngân hàng… nhiều hơn bởi cơ hội việc làm lớn hơn, thu nhập cao hơn. Cũng có nghĩa là người Việt bây giờ, đặc biệt là giới trẻ đặt vấn đề lợi ích lên cao hơn, thực dụng hơn. Có nhiều người cho rằng, sự tăng trưởng kinh tế trong những năm qua diễn ra quá mạnh mẽ, nó cần nguồn nhân lực lớn, tạo thành cơn lốc xoáy cuốn nguồn nhân lực vào đó, làm lu mờ các lĩnh vực xã hội và nhân văn khác. Theo tôi điều này cũng có một phần đúng, nhưng nó không phải là quy luật thông thường của các quốc gia trong quá trình phát triển. Kinh tế phát triển, đời sống con người nâng cao thì các lĩnh vực xã hội, nhân văn, nghệ thuật cũng đương nhiên phải có thêm sức mạnh để phát triển  chứ không thể vì thế mà lụi tàn. Sự phát triển nền kinh tế mà tạo ra sự khủng hoảng về xã hội và nhân văn như vậy là sự phát triển không bình thường. Phải chăng những người  làm kinh tế chưa thực nhận thức đúng về phương pháp phát triển kinh tế một cách toàn diện? Phải chăng các nhà  quản trị kinh doanh chưa nhìn thấy sức mạnh kinh tế từ chính các hoạt động xã hội nhân văn? Trong nền kinh tế tri thức như hiện nay,  các sản phẩm bán ra trên thị trường, hàm lượng trí tuệ xã hội nhân văn ngày càng lớn. Từ  thẩm mỹ, mẫu mã, tâm lý tiêu dùng, các lĩnh vực truyền thông khác  đều hết sức quan trọng. Đó là chưa kể tới  khoa học quản lý điều hành sản xuất, quan hệ doanh nghiệp, phát triển nhân lực, quan hệ khách hàng, tinh thần người sản xuất, hoạt động quảng bá doanh nghiệp… đều thuộc lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn. Các lĩnh vực dịch vụ xã hội, các ngành công nghiệp giải trí thực sự là ngành kinh tế mũi nhọm đem lại nhiều tiền bạc chẳng kém các lĩnh vực công nghệ cao khác tại nhiều quốc gia trên thế giới. Như vậy  sự suy giảm sức thu hút của các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn vừa là dấu hiệu của sự khủng hoảng hệ giá trị, khủng hoảng nhân văn, đồng thời cũng cho thấy chính sự phát triển kinh tế có vấn đề chưa hợp lý.
Vấn đề số thí sinh thi vào các ngành xã hội nhân văn giảm mạnh sẽ ảnh hưởng tới cơ cấu nguồn nhân lực trong xã hội, đó là rõ ràng, nhưng  đó mới chỉ là một phần của nguy cơ. Vấn đề nghiêm trọng hơn  lại ở chỗ, trong số ngày càng ít đi  số thí sinh thi các ngành khoa học xã hội và nhân văn đó, số thực sự có tư chất tốt, học lực xuất sắc lại rất ít coi các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là đối tượng đam mê.  Các lĩnh vực xã hội nhân văn có thể không cần số lượng nhiều như nhân lực kỹ thuật, công nghệ, tài chính ngân hàng… nhưng lại cần những người rất giỏi, chẳng hạn như triêt học, khảo cổ, tâm lý, nghệ thuật học, chính trị học….Không có người giỏi thi vào chúng ta sẽ thiếu chuyên gia trong các lĩnh vực này. Sự điều chỉnh và định hướng cho xã hội lệ thuộc rất nhiều vào lực lượng trí thức này. Tôi thấy dư luận mới chỉ quan tâm tới ít người thi mà còn chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề  ít người giỏi thi.
Điều hệ trọng nữa cũng cần phân tích thêm là, trong sự suy giảm thí sinh thi khối C, D, tình hình có khác nhau giữa các ngành. Nhiều ngành xã hội như luật học, kinh tế, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ, báo chí, truyền thông… vẫn thu hút khá nhiều thí sinh thi, nhiều ngành còn tăng hơn cả năm trước. Số ngành bị giảm mạnh số thí sinh thi lại là những ngành khoa học cơ bản, những ngành mà vai trò của chúng có tác động rất lớn tới  đời sống tinh thần xã hội, chẳng hạn các ngành triết học, nhân học, ngôn ngữ, thông tin thư viện, lịch sử, văn học… Như vậy cũng có nghĩa là  sự sụt giảm của khối xã hội và nhân văn cần nhìn nhận đối với từng ngành cụ thể và khi tìm giải pháp cũng cần đề ra những giải pháp khác nhau cho từng ngành, hay nhóm các ngành.
Một số ý kiến đã bày tỏ chú ý nhiều tới  việc hãy có chính sách ưu tiên, khuyến khích, ưu đãi, chăm lo cho các lĩnh vực này, tới người học, người nghiên cứu, tới đãi ngộ trong lao động, nghề nghiệp… Tôi nghĩ hướng giải pháp như vậy cần thiết, nhưng mới chỉ đúng một phần. Hướng này chủ yếu cho các ngành cơ bản, có liên quan tới chiến lược và lợi ích quốc gia ( vấn đề này  không chỉ thuộc khối xã hội nhân văn mà ở khối khoa học tự nhiên cũng gặp) thì cần có đầu tư lớn. Những ngành này không những không thu học phí mà còn cần cấp học bổng, cần đầu tư mạnh. Tuy nhiên đó vẫn chỉ là một phần của giải pháp, nó không căn bản  và lâu dài. Người ta dẫu được miễn học phí, được ưu tiên, nhưng nghề nghiệp sau này không đem lại thu nhập tốt và cơ hội phát triển tốt thì người ta vẫn không theo học và làm việc tại các ngành đó.
Để có được sự thay đổi mang tính gốc rễ, cần có một giải pháp tổng thể, có hệ thống. Cần phải có điều tiết vĩ mô trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Cần phải có những chính sách, những biện pháp để đối phó uốn nắn sự thay đổi trong định hướng giá trị của xã hội theo hướng lệch lạc.
Tôi cũng đã tham gia nhiều cuộc tư vấn tuyển sinh cho học sinh phổ thông chuẩn bị  chọn trường để thi đại học, câu hỏi mà các em thường dùng nhất là nghề này nghề khác có dễ tìm việc không, thu nhập có cao không, thi có dễ đỗ không, mà hầu như không có ai hỏi rằng, em như vậy như vậy có phù hợp với nghề ấy không,  nghề nào thì phát huy năng lực của em tốt nhất. Lại càng vắng bóng loại câu hỏi rằng nghề nào sẽ giúp em sống tốt nhất, có thể giúp đời nhiều nhất. Cái từ cửa miệng “ cống hiến” đã bị người ta dùng quá nhiều trong các thập kỷ về trước tới mức mòn hết cả nghĩa đi, thậm chí còn đang chuyển sang nghĩa trào phúng. Điều chỉnh hệ thống quan niệm giá trị, cho thế hệ trẻ là một giải pháp vĩ mô, giải pháp căn bản.
Về phía những người hoạt động trong  nền kinh tế, quản trị kinh doanh một cách khôn ngoan cần tìm lấy sức mạnh và sự góp mặt của các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Mặt khác, những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng cần phải điều chỉnh chính mình để thích nghi với sự thay đổi của đời sống xã hội, của kinh tế và văn hóa. Nhiều lĩnh vực đã hàn lâm thì vẫn phải hàn lâm cho đến nơi đến chốn, nhưng vẫn phải chú ý tới nhu cầu xã hội, giai quyết các vấn đề xã hội. Những ngành ứng dụng thì lại càng phải tăng tính thực hành, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, gắn bó mật thiết lĩnh vực của mình với đời sống kinh tế của đất nước. Một đất nước phát triển thực sự, sẽ không có sự phân biệt rạch ròi đâu là các lĩnh vực kinh tế, đâu là văn hóa. Về bản chất chúng là một.
Một số yếu tố có tính kỹ thuật cũng cần chú ý, chủ yếu là công việc của hệ thống giáo dục. Nên bỏ phân ban ở bậc học phổ thông  càng sớm càng tốt. Việc phân ban ở phổ thông không giải quyết được  gì về mặt định hướng nghề nghiệp. Phổ thông cần phân luồng mà không nên phân ban. Phân luồng xem số nào nên theo học nghề, trung cấp, nhóm nào có thể học lên đại học. Không nên phân ban A,B,C,D…. vì ngay cả các ban này cũng chưa  phải là những tri thức thực sự cần thiết cho nghề nghiệp sẽ chọn. Học sinh chưa hiểu nghề mà đăng ký học theo ban, sau khi học rồi mới tìm hiểu nghề thì việc chọn nghề đã bị hạn định từ lúc chưa hiểu về nó mất rồi. Việc phân ban sẽ tạo ra sự học lệch lạc, phát triển không cân đối, nó đi ngược lại với tinh thần giáo dục con người phát triển toàn diện. Mặt khác, phân ban và thi theo khối là không phù hợp với việc chọn người của các trường đại học và các ngành nghề vốn dĩ hết sức phong phú, đa dạng. Nó vừa không đúng nhu cầu tuyển sinh, vừa thiếu vừa thừa. Theo tôi, nên bỏ phân ban ở bậc phổ thông và thay đổi toàn diện cách tuyển sinh đại học. Tất cả thí sinh muốn vào học bậc đại học đều cần phải qua kỳ thi tiếng Việt ( tiếng Việt chứ không phải văn học) và một môn khoa học tổng hợp. Những môn thi loại này nhằm kiểm tra tri thức, khả năng, của một người cần có để vào học ở bậc đại học. Việc thi các môn này giao cho các cơ cơ quan đánh giá độc lập và học sinh phổ thông có thể tích lũy các chứng chỉ  đó dần dần trong quá trình học phổ thông. Ngoài ra các trường tùy theo tình hình đặc điểm nghề nghiệp của mình mà có một vài môn thi riêng, tự quyết định lấy.
Một việc đương nhiên cần điều chỉnh ngay nữa chính là việc dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở bậc phổ thông như văn học, lịch sử, giáo dục công dân…Sách giáo khoa thì chi li, xơ cứng, nó cổ vũ cho học thuộc và công  nghệ học hơn là cảm nhận, thưởng thức, khích lệ tưởng tượng và sáng tạo.
Đối với các trường đại học, việc tư vấn tuyển sinh, thông tin hướng nghiệp cũng cần làm thường xuyên, làm sớm, không nên để dồn vào một vài kỳ cuộc có tính phong trào trước các đợt đăng ký tuyển sinh….
Tóm lại đây là một vấn đề xã hội lớn, cần một giải pháp tổng thể, trong đó có vai trò điều tiết vĩ mô của Chính phủ, vai trò chủ chốt của Bộ giáo dục và Đào tạo của các cơ quan truyền thông đại chúng và  của cả các bậc cha mẹ học sinh và chính các em học sinh.
Và lời cuối cùng mà tôi muốn bày tỏ với các bạn học sinh phổ thông  chính là, dù bất kỳ là ngành nào, khối nào,  chỉ  có thể là người nắm vững tri thức nghề, tốt hơn nữa là thật giỏi, những cơ hội rộng lớn sẽ mở ra trước mắt, còn dù là học nghề nào, mọi cơ hội đều đóng cửa trước những người thụ động,  lười biếng.
Tác giả: Nguyễn Kim Sơn

Tám biện pháp cải thiện đại học Mỹ

Giáo dục đại học Mỹ luôn được cả thế giới nhắc đến như một mô hình đại học lý tưởng, là hình mẫu cho các quốc gia khác học tập. Nhưng cũng chính nền đại học này gần đây đang phải chịu nhiều búa rìu của dư luận về nhiều vấn đề như học phí quá cao và tăng liên tục, tỷ lệ tốt nghiệp có sự chênh lệch rất lớn giữa các nhóm xã hội khác nhau, và gần đây nhất là câu hỏi không mấy dễ chịu của dư luận, đó là: liệu sinh viên tốt nghiệp có thực sự học được điều gì có ích hay chăng? Nói cách khác, nền đại học Mỹ đang cần có những cải cách nếu không muốn bị mất vị trí hàng đầu mà nó đang có.
 Nhưng cải cách giáo dục đại học Mỹ như thế nào đây? Trong bài viết đăng trên tờ Washington Post ngày 20/2/2011 có tựa đề là “Eight ways to get higher education into shape”, Daniel de Vise đã đưa ra tám biện pháp để giải quyết các vấn đề đang tồn tại trong giáo dục đại học của Mỹ hiện nay, đó là:


1. Đo lường việc học của sinh viên



Các trường đại học Mỹ vốn nổi tiếng về mức độ tự chủ cao; đồng thời sinh viên đại học cũng có rất nhiều quyền lựa chọn trong việc học của mình. Điều này rất tốt, nhưng không phải không có mặt trái của nó. Theo Daniel de Vise, cách đây chỉ khoảng một thập niên trở về trước, rất ít trường đại học và cao đẳng của Mỹ có được những phương pháp khách quan để đo lường việc học của sinh viên, và vì vậy hầu như không nắm được các sinh viên đã học tập được gì từ khi vào trường đến khi tốt nghiệp.


Mãi đến thời gian gần đây, trước những áp lực của cả Nhà nước lẫn công chúng thì giới đại học Mỹ mới nghiên cứu và đưa ra những bài trắc nghiệm đo lường thành quả của việc học của sinh viên đã tốt nghiệp (nói theo ngôn ngữ quản lý giáo dục của Việt Nam thì đây chính là “đánh giá chuẩn đầu ra”, tức đo năng lực đạt được của sinh viên sau khi học). Một nghiên cứu được thực hiện gần đây sử dụng bài trắc nghiệm CLA (Collegiate Learning Assessment, tạm dịch Bài trắc nghiệm học tập bậc đại học) nhằm đo lường năng lực tư duy của sinh viên tốt nghiệp đã đưa ra kết quả thực sự đáng báo động: Sinh viên tốt nghiệp đại học hầu như không có gì khác hơn so với sinh viên mới vào trường, hay nói cách khác, việc học tại trường hầu như không mang lại một chút giá trị gia tăng nào cho người học


Đây chính là lý do Daniel de Vise trong bài viết của mình đã đưa ra biện pháp cần phải đo lường việc học của sinh viên. Chỉ khi nào nhà trường đo đạc được chính xác kết quả của việc học tập của sinh viên sau từng môn học và có những hành động kịp thời để thúc đẩy việc học, thì lúc ấy việc học ở đại học mới đem lại cho người học những giá trị gia tăng cần có.


2. Ngưng cấp học bổng “tài năng”


Biện pháp này có vẻ rất vô lý, vì đây là một trong những điểm “hấp dẫn” của đại học Mỹ và là một chiêu tiếp thị quan trọng của tất cả các trường đại học Mỹ nhằm thu hút tài năng đến học ở trường mình. Nhưng theo lập luận của Daniel de Vise thì việc trợ cấp này thực ra chỉ giúp con nhà giàu chứ chẳng giúp gì cho con nhà nghèo cả. Con nhà nghèo thông thường sẽ có điểm học bạ ở phổ thông và điểm thi SAT/ACT thấp hơn (không có đủ điều kiện bằng con nhà giàu).


Nếu vẫn tiếp tục cách làm hiện nay, thì những người không thuộc diện được xét cấp học bổng “tài năng” không những phải đóng học phí để trả chi phí học tập của mình, mà còn phải gánh phần chi phí rất nặng của những người được cấp học bổng nữa. Kết quả là học phí ngày càng cao ngất ngưởng, khiến cho nhiều người cần học để cải thiện thu nhập nhưng không thể nào trả nổi học phí và phải nghỉ học. Khoảng cách giàu nghèo vì thế ngày càng tăng, và công bằng xã hội bị ảnh hưởng. (Việc cấp học bổng tài năng ở Mỹ nghe rất giống các chương trình cử nhân tài năng, và mở rộng hơn nữa là hệ thống các trường chuyên ở bậc trung học tại Việt Nam. Phải chăng giáo dục của chúng ta cũng đang xuất hiện mầm mống căn bệnh “lấy của người nghèo chia cho người giàu” chứ không phải là ngược lại).


3. Cấp bằng đại học sau 3 năm


Ba năm là thời gian đào tạo đại học chuẩn của châu Âu theo Tiến trình Bologna (hệ thống 3-5-8 tức 3 năm xong đại học, thêm 2 năm tức sau 5 năm xong thạc sĩ, thêm 3 năm tức sau 8 năm xong tiến sĩ). Tuy nhiên, ở Mỹ thì thời gian chuẩn để hoàn tất chương trình đại học là 4 năm, không kể những người học tăng số môn mỗi năm để rút ngắn thời gian.


Theo Daniel de Vise, tác giả bài viết, thực ra trước đây Mỹ cũng đã từng đào tạo đại học trong 3 năm, cho đến khi trường Đại học Harvard đưa ra yêu cầu phải kéo dài thành 4 năm (việc này xảy ra năm 1652). Hiện nay, một số đại học của Mỹ đang thử nghiệm áp dụng chương trình đại học trong 3 năm, và kết quả rất khả quan. Vì vậy, chẳng có lý do gì mà không trở lại chương trình 3 năm để tiết kiệm thời gian và chi phí.


Việc kéo dài thời gian học ra thành 4 năm, theo những người ủng hộ việc làm này, là nhằm có thời gian để sinh viên học những môn học “khai phóng” (liberal arts trong tiếng Anh, tạm dịch “khai phóng” trong khi chờ đợi một cách dịch hay hơn). Nhưng trong khi chi phí học tập ngày càng tăng, mà lợi ích của việc học chưa đo được rõ ràng, thì việc đòi hỏi giảm thời gian để giảm chi phí xem ra cũng rất hợp lý.


4. Cải cách chương trình cốt lõi


Một điểm tự hào khác của nền giáo dục Mỹ là chương trình đào tạo dựa trên một nền kiến thức rộng (mà ở trên ta đã đề cập đến dưới tên gọi là giáo dục khai phóng). Tất cả sinh viên Mỹ dù học ngành nào đều có chung một nền tảng kiến thức kinh điển tương tự nhau: Plato, Shakespeare, Darwin, tiếng La tinh hoặc tiếng Hy Lạp, vv. Những người ủng hộ cách xây dựng chương trình như trên đã đưa ra lập luận rằng một trong những sứ mạng quan trọng của trường đại học là truyền lại cho thế hệ sau những di sản tinh thần của nhân loại.


Những người ủng hộ cải cách lại cho rằng điều quan trọng không phải là cung cấp cho sinh viên những kiến thức kinh điển vốn ít đóng góp trực tiếp vào nhu cầu sử dụng hằng ngày và lại đầy ra trong sách vở, tài liệu, mạng Internet, mà là cung cấp cho họ những kỹ năng thiết yếu trong cuộc sống, ví dụ như kỹ năng tư duy phê phán chẳng hạn. Vì nếu không cải cách theo hướng này thì các trường đại học sẽ tạo ra những con người có thể biết rất nhiều nhưng chẳng làm được điều gì ra hồn cả.


5. Tăng cường giao bài tập về nhà


Nếu so với thời gian cách đây nửa thế kỷ thì thời gian học tập tại nhà của sinh viên đại học Mỹ đã giảm đi một cách đáng kể, từ 25 giờ một tuần xuống còn khoảng 15 giờ một tuần, Daniel de Vise đã ghi nhận như trên trong bài viết của mình. Tuy vậy, trong khi thời gian học tập giảm đi thì sinh viên ngày nay lại đạt điểm số trung bình cao hơn các “cụ” sinh viên cách đây 50 năm, (từ mức 2.5/4 tức mức trung bình khá lên thành mức 3.0/4 tức mức khá).


Những số liệu này phải chăng cho thấy sinh viên Mỹ ngày nay thông minh hơn và học hành có hiệu quả hơn cách đây nửa thế kỷ? Hay ngược lại, nó cho thấy các trường đại học Mỹ đang trở nên dễ dãi hơn rất nhiều đối với các sinh viên của mình? Các nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ thiên về cách diễn giải thứ hai. Xin nhắc lại kết quả của cuộc khảo sát sử dụng bài trắc nghiệm CLA đã đề cập ở trên. Cuộc khảo sát này cho thấy có đến 36% sinh viên tốt nghiệp hầu như không học được thêm một chút gì trong suốt thời gian học đại học. Nếu kết nối thông tin này với những số liệu đã nêu đoạn trên thì có thể thấy ngay sự dễ dãi của các trường đại học là nguyên nhân chính làm giảm sút chất lượng học tập của sinh viên Mỹ.




Tại sao các trường đại học Mỹ ngày nay lại trở nên dễ dãi đối với sinh viên hơn trước đây? Điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng tựu trung có hai nguyên nhân nổi bật. Trước hết là quan niệm xem sinh viên là những khách hàng và nhà trường cần chiều chuộng hơn là cần được kèm cặp, hướng dẫn, rèn luyện để giáo dục họ trở thành những con người theo những mục tiêu giáo dục đã định. Với tư cách là “thượng đế” trong trường đại học, sinh viên được quyền đưa ý kiến về mức độ hài lòng của mình sau mỗi môn học, và những ý kiến này được sử dụng để đánh giá giảng viên. Trong tình hình đó, các giảng viên sẽ trở nên dễ dãi với sinh viên, tránh đưa ra những yêu cầu quá cao hoặc những đòi hỏi khắt khe trong việc chuẩn bị bài vở ở nhà, vì điều này chỉ làm cho các thượng đế kém hài lòng về mình mà thôi.


Một nguyên nhân khác là chính sách quá nhấn mạnh thành tích nghiên cứu mà xem nhẹ chất lượng và hiệu quả của việc giảng dạy trong đánh giá giảng viên. Bài báo của Daniel de Vise trích lời một giảng viên giải thích tại sao ông ít giao các bài tập về nhà. Rất đơn giản: nếu giao nhiều bài tập cho sinh viên thì sẽ phải mất nhiều thời gian để chấm. Trong khi đó, cuộc chạy đua giành thành tích nghiên cứu để khẳng định vị trí trong các trường đại học thật nghiệt ngã. Như vậy, lựa chọn của giảng viên sẽ nghiêng về đâu là điều mà ai cũng có thể đoán được. Và hậu quả của điều này ra sao thì đã rõ. (Phải chăng xu hướng dễ dãi với sinh viên cũng đang tồn tại rất rõ nét tại Việt Nam, dù có thể do những nguyên nhân không giống với các nguyên nhân vừa nêu trong giáo dục của Mỹ?)


6. Gắn việc cấp kinh phí với tỷ lệ tốt nghiệp


Một loạt các kết quả nghiên cứu gần đây đã cho thấy giáo dục đại học Mỹ trên một số khía cạnh đã bộc lộ những nhược điểm khá trầm trọng và đang bị một số đối thủ tiềm năng vượt khá xa.


Một trong những nhược điểm ấy là tỷ lệ tốt nghiệp đại học của dân Mỹ chưa cao so với những nước công nghiệp phát triển khác. Một nghiên cứu của tổ chức College Board năm 2010 cho thấy nước Mỹ chỉ đứng hạng thứ 12 trên tổng số 36 quốc gia công nghiệp phát triển được khảo sát, với tỷ lệ là 40% thanh niên có một bằng cấp sau trung học (tối thiểu là bằng cao đẳng cộng đồng 2 năm), so với tỷ lệ 56% của Canada. Đáng lo ngại hơn nữa là sự chênh lệch rất lớn về tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn (tức không quá 6 năm kể từ ngày bắt đầu học) khi so sánh giữa các nhóm xã hội khác nhau tại Mỹ. Tỷ lệ này ở người da trắng là 60%, người gốc Mỹ Latinh là 49%, còn người da đen chỉ được 40%. Tỷ lệ bình quân quốc gia cũng chỉ đạt 57%, có nghĩa là cứ hai sinh viên theo học đại học tại Mỹ thì gần như có người không hoàn tất đúng hạn.


“Tám biện pháp cải thiện nền giáo dục Mỹ” tất nhiên cũng là ý kiến của chỉ một tác giả, và bài viết này sau khi ra đời đã gây ra những tranh cãi nảy lửa trên báo chí Mỹ, với những lời phản bác nặng nề. Nhưng bài viết của Daniel de Vise về những vấn nạn và giải pháp đối với nền đại học của Mỹ vẫn rất có giá trị vì những nhận định sắc bén và mới mẻ của nó. Và thật thú vị, nếu nền đại học Việt Nam rất khó học hỏi từ những thành tựu của mô hình đại học Mỹ, thì những bất cập và thất bại của nó dường như lại có thể là những bài học lớn mà các nhà lãnh đạo ngành giáo dục của Việt Nam có thể rút ra để cải thiện giáo dục của chính mình.
Việc sinh viên tham gia vào quá trình đào tạo trong một trường đại học nhưng cuối cùng bỏ dở không tốt nghiệp đáng lo ngại vì hai lẽ. Trước hết, đây rõ ràng là một sự lãng phí rất cao cho cả hai phía nhà trường và người học, khi công sức, chi phí và thời gian bỏ ra trong quá trình đào tạo cuối cùng không đem lại kết quả gì hết; hơn nữa, điều này cho thấy việc đào tạo của các trường đại học có một khâu nào đó trục trặc; trên nguyên tắc, sinh viên khi đã được xét tuyển vào một chương trình đại học phải có đủ tiềm năng để hoàn tất chương trình này, và nhà trường phải có một chương trình đào tạo thích hợp, một kế hoạch hướng dẫn tỉ mỉ cũng như những điều kiện hỗ trợ cần thiết để sinh viên hoàn tất chương trình. Một khi số sinh viên đã được nhận vào nhưng sau đó lại không đủ năng lực để hoàn tất thì chỉ có thể hoặc do khâu tuyển sinh quá lỏng lẻo, hoặc do quá trình đào tạo của các trường không hiệu quả.


7. Cắt giảm hỗ trợ thể dục thể thao 


Hoạt động thể thao sôi nổi của các trường đại học cũng là một trong những nét đặc thù tạo nên sự “hấp dẫn” của nền đại học Mỹ. Tuy nhiên, theo Daniel de Vise thì hoạt động này ngày càng được tổ chức giống hoạt động thể thao nhà nghề có tính thương mại, chủ yếu nhằm mục đích quảng cáo và xây dựng thương hiệu đối với công chúng, hơn là nhằm mục đích rèn luyện thân thể và tinh thần thượng võ cho các sinh viên, điều mà các trường đại học lẽ ra phải làm.


Chi phí cho các hoạt động thể thao nhà nghề là rất tốn kém, và nguồn kinh phí để tổ chức các hoạt động này đương nhiên được rút từ nguồn kinh phí chung của trường. Nói cách khác, mặc dù các huấn luyện viên và vận động viên đội tuyển của các trường đại học được trả lương cao ngất ngưởng như trong thể thao nhà nghề, thì chi phí cho các hoạt động này lại không phải tự trang trải (ví dụ, thông qua bán vé) mà được nhà trường bao cấp, hỗ trợ từ nguồn ngân sách được cấp và/hoặc từ học phí của người học. Chẳng trách học phí đại học của Mỹ cứ liên tục tăng trong suốt một thời gian dài và dường như chưa có ý định dừng lại. Trong bối cảnh kinh tế suy thoái như hiện nay của Mỹ, rõ ràng là không thể tiếp tục mức độ hỗ trợ cho thể thao tại các trường đại học như hiện nay.


8. Xem xét lại việc tổ chức phụ đạo ở các trường cao đẳng cộng đồng


Cao đẳng cộng đồng là một đặc trưng nổi bật khác mà nền giáo dục Mỹ rất tự hào và được nhiều quốc gia trên thế giới học tập, trong đó có Việt Nam. Cùng với chính sách tuyển sinh mở (gần như ai cũng có thể vào học mà không phải trải qua một cuộc tuyển lựa khắt khe), các trường cao đẳng cộng đồng luôn cung cấp những chương trình giúp củng cố những kiến thức và kỹ năng cơ bản cho những sinh viên yếu (dưới chuẩn) để giúp họ có thể theo kịp chương trình học ở trình độ sau trung học.


Tất cả nghe qua thì rất hay và rõ ràng đáng được duy trì, nhưng những con số sau đây chắc chắn sẽ làm cho bất cứ ai ủng hộ mô hình cao đẳng cộng đồng cũng phải giật mình. Cứ 5 sinh viên đăng ký vào học ở một trường cao đẳng cộng đồng thì có đến 3 người phải theo học những chương trình phụ đạo những kiến thức và kỹ năng của trung học. Đáng giật mình hơn là cứ mười sinh viên phải học phụ đạo khi vào cao đẳng cộng đồng thì chỉ có hơn hai người hoàn tất và tốt nghiệp với tấm bằng cao đẳng hai năm với thời gian học tổng cộng là … tám năm!


Những số liệu nêu trên bộc lộ một bất cập rất lớn trong mô hình cao đẳng cộng đồng hiện nay, mà điểm mấu chốt cũng là ở khâu tiếp nhận sinh viên. Bài viết của Daniel de Vise trích lời của Robert Templin, Hiệu trưởng trường Cao đẳng cộng đồng Bắc Virginia, cho rằng các lớp học phụ đạo như hiện nay là không hữu ích và làm lãng phí thời gian của sinh viên vì phải học lại khá nhiều điều họ đã biết hoặc những điều không thực sự cần thiết cho việc học ở bậc cao đẳng và nghề nghiệp của họ sau này. Vì vậy, thay vì yêu cầu các sinh viên còn yếu kiến thức cơ bản (việc xác định sinh viên yếu được thực hiện dựa trên điểm số của một bài kiểm tra) phải theo học các lớp phụ đạo trước khi họ có thể bắt đầu chương trình chính khóa, một số trường vào thẳng chương trình chính và tự chọn tham gia các khóa học phụ đạo bất cứ khi nào họ thấy cần củng cố kiến thức để có thể học lên tiếp.

Tác giả: 
Vũ Thị Phương Anh